Viêm màng bồ đào trước - Bệnh Viện Mắt Quốc Tế DND - 128 Bùi Thị Xuân HN
    • Tiếng Việt
    • English
  • Hotline:0969.128.128

  • Viêm màng bồ đào trước

    Các triệu chứng của Viêm màng bồ đào trước

    Triệu chứng của viêm MBĐ trước gồm nhìn mờ, mắt đau, đỏ, sợ ánh sáng, chảy nước mắt, tủa mặt sau giác mạc, tế bào và Tyndall thủy dịch (+), fbrin hoặc mủ tiền phòng, phân tán sắc tố, co đồng tử, các nốt trên mống mắt và dính mống mắt.

    1. Giảm thị lực:

    • Là triệu chứng xuất hiện ngay từ đầu. Giảm thị lực do đục môi trường trong suốt bởi tủa giác mạc, bởi protein, tế bào viêm và fbrin trong thủy dịch.

    2. Đau: 

    • Đau nhức mắt là triệu chứng chủ quan nổi bật nhất do mống mắt thể mi có mạng lưới thần kinh phong phú xuất phát từ dây V. Đau do co thắt thể mi và các đầu tận cùng thần kinh còn bị kích thích bởi nồng độ độc tố cao.

    3. Sợ ánh sáng, chảy nước mắt 

    • Do kích thích dây V.

    4. Cương tụ:

    • Là dấu hiệu xuất hiện đầu tiên, hay gặp do sự cấp máu cho mống mắt, thể mi rất phong phú. Chủ yếu là do ứ đọng và giãn các mạch máu ở sâu, các mạch thượng củng mạc vùng rìa. Càng xa vùng rìa, cương tụ càng giảm dần, khác với hiện tượng cương tụ kết mạc trong viêm kết mạc cấp.
    • Cương tụ các mạch ở mống mắt làm cho mống mắt sẫm màu và có thể gây xuất huyết mống mắt, xuất huyết tiền phòng.
    • Đôi khi bệnh nhân không có các triệu chứng chủ quan, viêm MBĐ được phát hiện tình cờ khi khám mắt.

    viêm màng bồ đào trước

    5. Tủa giác mạc:

    • Là những lắng đọng tế bào viêm ở nội mô giác mạc.

    Về mô học, tủa giác mạc gồm những tế bào lympho, tương bào, thực bào đơn nhân lớn và có thể kèm theo các hạt sắc tố, các tế bào này nằm trong một lưới fbrin.

    Tủa giác mạc thường lắng đọng ở trung tâm và phần dưới của giác mạc tạo thành hình tam giác, đỉnh quay lên trên (tam giác Arlt). Tủa giác mạc cũng có khi phân bổ đều trên toàn bộ nội mô giác mạc và có hình sao như trong viêm MBĐ dị sắc Fuchs hoặc viêm MBĐ do virus herpes. Tủa giác mạc có thể là những chấm nhỏ li ti (tủa bụi) hoặc to thành đốm như mỡ cừu đặc biệt trong viêm MBĐ mãn tính hoặc dạng hạt.

    Tủa giác mạc mới có màu trắng kem, bờ mờ. Trong giai đoạn viêm MBĐ ổn định, tủa giác mạc ngả màu nâu do có sắc tố, tủa có khía và nhỏ lại (tủa cũ). Sự phân biệt giữa tủa mới trong viêm MBĐ hoạt tính với tủa cũ trong viêm MBĐ đã ổn định là rất quan trọng để có chỉ định điều trị thích hợp. Đặc điểm của tủa giác mạc trong viêm MBĐ cũng là dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán phân biệt viêm MBĐ tăng nhãn áp với cơn glocom góc đóng.

    6. Xuất tiết:

    • Xuất tiết do tăng tính thấm thành mạch.

    7. Thủy dịch trong tiền phòng có protein

    Biểu hiện bằng dấu hiệu Tyndall dương tính, tiền phòng có thể có fibrin hoặc mủ gồm bạch cầu đa nhân và tế bào hoại tử. Xác định dấu hiệu Tyndall bằng đèn khe sinh hiển vi chếch 45º với cường đọ ánh sáng và độ phóng đại tối đa, khe sáng rộng 1x1mm. Các mức độ Tyndall:

    +   Tyndall 1+: thủy dịch đục rất nhẹ

    +   Tyndall 2+: thủy dịch đục vừa phải, còn soi rõ chi tiết mống mắt và thể thủy tinh.

    +   Tyndall 3+: thủy dịch đục nhiều, không soi rõ chi tiết mống mắt và thể thủy tinh.

    +   Tyndall 4+: thủy dịch đục rất nhiều, có fibrin.

    Mức độ phản ứng tế bào ở tiền phòng được phân loại theo số lượng tế bào viêm thấy trong một vi trường 1x1mm với cường độ ánh sáng và độ phóng đại tối đa:

    Mức độ                      Tế bào trong vi trường

    0.5+                                    1-5

    1+                                       6-15

    2+                                       16-25

    3+                                       26-50

    4+                                       >50

    Khi còn dấu hiệu Tyndall chứng tỏ viêm MBĐ vẫn còn hoạt tính

    Xuất tiết ở diện đồng tử thành màng bít kín diện đồng tử sẽ cản trở lưu thong thủy dịch từ hậu phòng ra tiền phòng.

    Xuất tiết ở mống mắt có thể làm dính mống mắt với thể thủy tinh, hình thành những dính sau. Khi dùng thuốc dãn đồng tử nếu đồng tử dãn được, những chỗ mống mắt dính sau khi bị đứt ra sẽ để lại một vòng sắc tố Vossius ở bao trước thể thủy tinh.

    Xuất tiết ở góc tiền phòng, ở vùng bè củng mạc gây bít góc tiền phòng cản trỏ lưu thông thủy dịch làm tăng nhãn áp.

    8. Những thay đổi ở đồng tử:

    • Lúc đầu: đồng tử co nhỏ, phản xạ chậm do xung huyết và phù của tổ chức, do kích thích thần kinh bởi độc tố và các chất kích thích; sự kích thíc cơ co đồng tử mạnh hơn cơ dãn đồng tử.
    • Giai đoạn tiếp theo: bờ đồng tử dính vào mặt trước thể thủy tinh làm đồng tử méo. Nếu dùng thuốc dãn đồng tử sớm, những chỗ dính tách ra được, đồng tử dãn ra để lại một vòng sắc tố của lớp sắc tố mặt sau mống mắt ở bao trước thể thủy tinh như đã mô tả ở phần trên.
    • Khi bệnh diễn biến lâu ngày, các chỗ dính đồng tử đã xơ hóa thì các thuốc dãn đồng tử không có tác dụng.

    9. Các nốt ở mống mắt:

    Trong viêm MBĐ báo cấp hoặc mãn, có sự tích tụ tế bào thành những nốt ở mống mắt. Các nốt gồm tế bào biểu mô và lympho mà không có hoại tử tổ chức.

    • Nốt Koeppe: do Koeppe mô tả năm 1917, các nốt màu trắng xám ở bờ đồng tử, xuất hiện sớm trong đợt viêm và thường tiêu nhanh.
    • Nốt Busacca: được Busacca mô tả năm 1932, các nốt ở mặt trước mống mắt, có khi ở trong nhu mô mống mắt. Các nốt màu trắng xám, có thể tồn tại nhiều tháng, đôi khi tổ chức hóa, có tân mạch hoặc thoái hóa hyaline. Khi các nốt ở gần chân mống mắt có thể gây dính và nghẽn góc tiền phòng. Nốt Busacca ít gặp hơn nốt Koeppe.
    • Nốt Berlin: nốt ở chân mống mắt.

    –    Teo mống mắt hay gặp trong viêm MBĐ do zona, herpes hoặc viêm MBĐ dị sắc Fuchs.

    10. Nhãn áp:

    Trong viêm mống mắt thể mi ở giai đoạn đầu, nhãn áp thường thấp thoáng qua do giảm tiết thủy dịch vì viêm thể mi. Có những viêm MBĐ ở giai đoạn cuối, nhãn áp thấp vĩnh viễn do thể mi bị hủy hoại gây teo nhãn cầu.

    Nhãn áp có thể tăng trong đợt viêm cấp do xuất tiết bít diện đồng tử hoặc làm nghẽn góc tiền phòng cản trở sự lưu thông thủy dịch.

    Trong các triệu chứng của viêm mống mắt thể mi, Tydall thủy dịch dương tính và tủa giác mạc là triệu chứng quan trọng nhất để chẩn đoán xác định bệnh ở giai đoạn hoạt tính. Nếu Tyndall âm tính và tủa giác mạc tiêu hết hoặc tủa ngả màu sắc tố nâu chứng tỏ viêm mống mắt thể mi đã cũ.

    Đội ngũ Bác sỹ

            ©Copyright 2020 International Eye Hospital | All right reserved. Address: 128 Bùi Thị Xuân Str, Hà Nội

    show hide
    go top

    0969128128